Người nước ngoài đã ly hôn với vợ/chồng người Hàn Quốc có thể tiếp tục cư trú theo diện F-6-2 để nuôi con chưa thành niên. Nếu trách nhiệm chính về sự tan vỡ của hôn nhân thuộc về vợ/chồng người Hàn, có thể xin cư trú theo diện F-6-3. Người không đáp ứng hai diện này vẫn có thể xin diện F-1-6 nếu cần ở lại để phân chia tài sản hoặc giải quyết việc gia đình. Việc xét duyệt căn cứ vào việc nuôi con thực tế, nguyên nhân hôn nhân tan vỡ và các việc gia đình cần giải quyết tại Hàn Quốc.
Tư cách cư trú F-6 sau ly hôn
Ly hôn làm mất căn cứ cư trú theo diện vợ/chồng công dân Hàn Quốc (F-6-1). Người đáp ứng điều kiện nuôi con hoặc hôn nhân tan vỡ có thể tiếp tục cư trú theo diện F-6.
| Diện | Đối tượng | Sau ly hôn |
|---|---|---|
| F-6-1 Vợ/chồng công dân | Người kết hôn hợp pháp với công dân Hàn Quốc và duy trì đời sống hôn nhân | Mất căn cứ khi hôn nhân chấm dứt |
| F-6-2 Nuôi con | Cha hoặc mẹ đang nuôi, hoặc dự định nuôi tại Hàn Quốc, con chưa thành niên sinh ra từ hôn nhân với công dân (kể cả hôn nhân thực tế) | Tiếp tục cư trú nếu việc nuôi con được công nhận |
| F-6-3 Hôn nhân tan vỡ | Người không thể duy trì hôn nhân do vợ/chồng chết, mất tích, hoặc do nguyên nhân không thuộc lỗi của mình | Tiếp tục cư trú nếu chứng minh được mình không có lỗi |
Diện hôn nhân tan vỡ (F-6-3) không được cấp dưới hình thức visa tại cơ quan đại diện ở nước ngoài mà chỉ được cấp qua thủ tục đổi tư cách cư trú trong nước. Người đang giữ tư cách F-6-1 tại thời điểm nộp hồ sơ thường xin gia hạn cư trú với lý do nuôi con hoặc hôn nhân tan vỡ.
Nuôi con và quyền thăm nom theo diện F-6-2
Người đang nuôi, hoặc dự định nuôi tại Hàn Quốc, con chưa thành niên sinh ra từ hôn nhân với công dân (kể cả hôn nhân thực tế) có thể cư trú theo diện nuôi con (F-6-2). Khi xét duyệt, việc có thực sự nuôi con hay không sẽ được xác minh, và khi cần thiết sẽ có điều tra thực tế.
Ngay cả khi không trực tiếp nuôi con, nếu có quyền thăm nom và đang duy trì giao lưu liên tục với con thì có thể chứng minh điều đó để được công nhận cư trú. Tuy nhiên, nếu quyền thăm nom đã bị hạn chế hoặc loại trừ theo quyết định của tòa án gia đình, hoặc không có giao lưu với con, thì việc cư trú không được cho phép.
Vì diện nuôi con được đánh giá xoay quanh sự cần thiết của việc nuôi dưỡng con, độc lập với trách nhiệm đối với sự tan vỡ, nên khi có con chưa thành niên, việc xem xét diện nuôi con (F-6-2) trước diện hôn nhân tan vỡ (F-6-3) là phù hợp. Việc gia hạn cư trú được thực hiện trong phạm vi 3 năm (theo quy định năm 2026).
Hôn nhân tan vỡ và lỗi của vợ/chồng theo diện F-6-3
Ngay cả khi không có con chưa thành niên, người không thể duy trì hôn nhân bình thường do vợ/chồng chết, mất tích, hoặc do nguyên nhân không thuộc lỗi của mình vẫn có thể tiếp tục cư trú theo diện hôn nhân tan vỡ (F-6-3). Trường hợp trách nhiệm chính thuộc về vợ/chồng người Hàn — bỏ nhà đi, bạo hành — thuộc diện này.
Trọng tâm của việc xét duyệt là chứng minh bằng tài liệu khách quan rằng sự tan vỡ không do lỗi của mình. Chỉ lời khai hoặc tình tiết suy đoán là không đủ; tùy từng vụ việc, cần có hồ sơ tòa án thể hiện quá trình ly hôn, hồ sơ điều tra hoặc y tế, và xác nhận của bên thứ ba. Các tình tiết như bạo hành hoặc bỏ nhà đi sẽ khó thu thập tài liệu hơn khi thời gian trôi qua, nên việc chuẩn bị cần bắt đầu từ trước khi tiến hành thủ tục ly hôn.
Mặt khác, ngay cả người có một phần lỗi trong sự tan vỡ, nếu đang phụng dưỡng cha mẹ hoặc gia đình của vợ/chồng người Hàn thì có thể chứng minh việc phụng dưỡng đó để được phép cư trú trong phạm vi 1 năm (theo quy định năm 2026).
Diện F-1-6 và cư trú trong thời gian giải quyết ly hôn
Khi không thuộc diện nuôi con và cũng không thuộc diện hôn nhân tan vỡ, người buộc phải ở lại Hàn Quốc để phân chia tài sản hoặc giải quyết việc gia đình có thể cư trú theo diện thu xếp gia sự (F-1-6). Thời hạn cho phép là trong phạm vi 6 tháng mỗi lần, tối đa 1 năm kể từ ngày đổi tư cách; trường hợp vụ kiện liên quan như đòi hoàn trả tiền đặt cọc kéo dài quá 1 năm, có thể cư trú theo diện khác (G-1) cho đến khi vụ kiện kết thúc (theo quy định năm 2026).
Việc đang ly thân hoặc đang giải quyết vụ kiện ly hôn không tự động đáp ứng điều kiện gia hạn F-6-1. Cơ quan xét duyệt đánh giá quan hệ hôn nhân thực tế tại thời điểm ra quyết định. Nếu quan hệ đã tan vỡ, có thể xem xét điều kiện cư trú F-6-3 dựa trên việc trách nhiệm chính có thuộc về vợ/chồng người Hàn hay không. Không nhất thiết phải chờ ly hôn có hiệu lực mới xem xét vấn đề này. Xem phân tích bản án về cư trú F-6 trước khi ly hôn có hiệu lực (tiếng Anh).
Chứng cứ về lỗi sau ly hôn thuận tình
Giấy tờ ly hôn thuận tình thường không thể hiện ai chịu trách nhiệm về sự tan vỡ của hôn nhân. Nếu hai người không có con chưa thành niên đã thuận tình ly hôn do vợ/chồng người Hàn bỏ nhà đi, ngoài giấy tờ chứng minh việc ly hôn, cần có tài liệu về thời điểm người đó bỏ đi và quá trình dẫn đến việc chấm dứt đời sống vợ chồng.
Thời gian hôn nhân, đời sống chung thực tế và diễn biến dẫn đến tan vỡ được xem xét để chứng minh trách nhiệm chính của vợ/chồng người Hàn. Hoàn cảnh sinh sống tại Hàn Quốc và nhu cầu tiếp tục cư trú cũng cần được trình bày, nhưng hồ sơ phải làm rõ trách nhiệm đối với sự tan vỡ, là căn cứ xin cư trú theo diện F-6-3.
Ngày hết hạn cư trú và hồ sơ gia hạn, đổi tư cách
Nếu thời hạn cư trú kết thúc trước khi ly hôn có hiệu lực, cần xác định diện phù hợp dựa trên đời sống vợ chồng thực tế, việc nuôi con và trách nhiệm đối với sự tan vỡ. Lịch nộp hồ sơ gia hạn hoặc đổi tư cách phải tính đến ngày hết hạn cư trú và thời điểm có đủ tài liệu chứng minh điều kiện tương ứng.
Câu hỏi thường gặp
Bài viết này được soạn nhằm mục đích giới thiệu chế độ pháp luật một cách tổng quát và không phải là tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Việc đánh giá về tư cách cư trú có thể khác nhau tùy theo tình tiết cụ thể như quá trình cư trú, thu nhập và quan hệ hợp đồng. Nếu quý vị cần xem xét vụ việc của riêng mình, có thể đăng ký tư vấn với Trung tâm Hỗ trợ Xuất nhập cảnh và Di trú của Công ty Luật Lawyeon (lawyeon-immigration.com).